THỐNG KÊ TRUY CẬP
Số người đang online: 48
Số lượt truy cập: 7486340
QUẢNG CÁO
Tìm hiểu về dân tộc Bru-Vân kiều trong cộng đồng người Việt và các dân tộc trên thế giới 10/05/2019 1:22:03 SA
Theo những thống kê chưa đầy đủ, trên thế giới có chừng 2.000 dân tộc khác nhau. Quốc gia có nhiều dân tộc nhất thế giới là Nigeria có tới 250 dân tộc. Có bảy dân tộc có tổng số nhân khẩu quá 100 triệu người (người Hán, người Industan, người Mỹ, người Bănggan, người Nga, người Nhật, người Brazil), nhưng cũng có dân tộc chỉ vài chục người mà thôi. Có 20 nước chỉ có một dân tộc.

       Đất nước Việt Nam của chúng ta cả thảy có 54 dân tộc cùng chung sống hòa bình. Có thể chia thành 8 nhóm theo ngôn ngữ như sau:
    - Nhóm Việt - Mường có 4 dân tộc là: Kinh (Việt), Chứt, Mường, Thổ.
    - Nhóm Tày - Thái có 8 dân tộc là: Bố Y, Giáy, Lào, Lự, Nùng, Sán Chay, Tày, Thái.
    - Nhóm Môn - Khmer có 21 dân tộc là: Ba Na, Brâu,
Bru - Vân Kiều, Chơ Ro, Co, Cơ Ho, Cờ Tu, Giẻ Triêng, Hrê, Kháng, Khmer, Khơ Mú, Mạ, Mảng,  M'Nông, Ơ Đu, Rơ Măm, Tà Ôi, Xinh Mun, Xơ Đăng, Xtiêng.
    - Nhóm Mông - Dao có 3 dân tộc là: Dao, Mông, Pà Thẻn.
    - Nhóm Kadai có 4 dân tộc là:  Cờ Lao, La Chí, La Ha, Pu Péo.
    - Nhóm Nam Đảo có 5 dân tộc là: Chăm, Chu Ru, Ê Đê, Gia Rai, Ra Glai.
    - Nhóm Hán có 3 dân tộc là: Hoa, Ngái, Sán Dìu.
    - Nhóm Tạng có 6 dân tộc: Cống, Hà Nhì, La Hủ, Lô Lô, Phù Lá, Si La.

       Mỗi dân tộc hầu như có tiếng nói, chữ viết và bản sắc văn hoá riêng. Bản sắc văn hoá của các dân tộc thể hiện rất rõ nét trong các sinh hoạt cộng đồng và trong các hoạt động khác. Từ trang phục, ăn, ở, quan hệ xã hội, đến các phong tục tập quán trong cưới xin, ma chay, thờ cúng, lễ tết; trong văn nghệ, vui chơi...

       Dân tộc Bru-Vân Kiều, trên thực tế còn có các tên gọi Vân Kiều, Măng Coong, Trì, Khùa, Bru cũng dùng để chỉ các nhóm khác nhau trong tộc người này. Theo điều tra dân số năm 1999 thì dân tộc Bru - Vân Kiều có  55.559 người, sống tập trung ở miền núi nhiều nhất ở tỉnh Quảng Trị, sau đó đến Quảng Bình, Đắk LắkThừa Thiên- Huế. Lào  khoảng 69.000 người,  Thái Lan 25.000 người.

  Nguồn gốc:  

       Người Bru vốn là cư dân nông nghiệp có trình độ tương đối phát triển, xưa kia họ tập trung sinh sống tại vùng Trung Lào, sau những biến động của lịch sử diễn ra hàng thế kỷ, họ phải di cư đi các nơi. Một số đi theo hướng Tây bắc sang Thái Lan, một số đi theo hướng  Đông tụ cư tại vùng miền núi phía tây Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế của Việt Nam. Khi vào Việt Nam họ dựng làng xung quanh hòn núi Vân Kiều (núi Viên Kiều), về sau người Việt lấy tên của hòn núi đặt cho một tổng của người Bru, và từ đó họ còn được gọi là Bru - Vân Kiều.

   Đặc điểm chung:

       Tộc người Bru - Vân Kiều có truyền thống làm nương rẫy, làm ruộng, cùng với hái lượm săn bắn và đánh cá. Việc chăn nuôi gia súc, gia cầm dành chủ yếu cho các lễ cúng hơn là cải thiện bữa ăn. Nghề thủ công chỉ có đan chiếu lá, gùi. Văn hoá của người Bru-Vân Kiều đặc sắc, thể hiện ở phong tục hôn nhân, nghệ thuật âm nhạc truyền thống, ở kiến trúc và trang phục.

    Về ngôn ngữNgười Bru - Vân Kiều dùng ngôn ngữ nói là của tiếng Bru - thuộc ngữ chi Cơ Tu của ngữ tộc Môn-Khmer. Ở các vùng đất khác nhau cách phát âm cũng có khác nhau.

     Về hôn nhân: Phong tục đám cưới của người Bru-Vân Kiều trước đây, nhà trai trao cho nhà gái một thanh kiếm, cô dâu khi về nhà chồng thường trải qua nhiều nghi lễ phức tạp: bắc bếp, rửa chân,... Trong họ hàng, ông câu có quyền quyết định khá lớn đối với việc lấy vợ, lấy chồng cũng như khi làm nhà, cúng bái của các cháu.

     Về âm nhạc: Nhạc cụ truyền thống Bru-Vân Kiều có nhiều loại: Trống, thanh la, chiêng núm, kèn (amam, ta-riềm, Khơ-lúi, pi), đàn (achung, pơ-kua...). Dân ca của dân tộc này có nhiều làn điệu như "chà chấp"- lối vừa hát vừa kể rất phổ biến, hay "sim"- hình thức hát nam nữ. Ca dao, tục ngữ, truyện cổ các loại của người Bru-Vân Kiều  khá phong phú.

     Về kiến trúc: Người Bru-Vân Kiều ở nhà sàn nhỏ, phù hợp với quy mô gia đình, thường gồm cha, mẹ và các con chưa lập gia đình riêng. Nếu ở gần bờ sông, suối, các nhà trong làng tập trung thành một khu trải dọc theo dòng chảy. Nếu ở chỗ bằng phẳng rộng rãi, các ngôi nhà trong làng xếp thành vòng tròn hay hình bầu dục, ở giữa là nhà công cộng. Nhà của người Bru-Vân Kiều là nhà sàn có hai mái, thường lợp bằng lá mây hoặc lá cọ. Chiều dài của ngôi nhà tùy thuộc vào số lượng người, hoặc tùy thuộc vào kinh tế trong từng gia đình. Nhưng dù nhà dài hay ngắn, đều cũng chỉ có hai cửa chính, một cửa chủ yếu dành cho nữ, còn một cửa chỉ dành cho nam. Hai bên đầu hồi có những hình trang trí bằng gỗ theo kiểu sừng trâu hoặc đôi chim, vừa đỡ bị tốc lá vừa mang tính thẩm mỹ và trừ khử tà ma. Ngày nay, người Bru-Vân Kiều ở nhiều nơi đã có xu hướng ở nhà trệt.

      Về trang phục: Trước đây nam giới Bru-Vân Kiều thường để tóc dài, búi phía sau, ở trần, đóng khố bằng vỏ cây sui. Phụ nữ Bru-Vân Kiều mặc áo và váy. Áo nữ có đặc điểm xẻ ngực màu chàm đen và hàng kim loại bạc tròn đính ở mép cổ và hai bên nẹp áo. Có nhóm mặc áo chui đầu, không tay, cổ khoét hình tròn hoặc hình vuông. Váy trang trí theo các mảng lớn trong bố cục dải ngang. Gái chưa chồng búi tóc về bên trái, sau khi lấy chồng búi tóc trên đỉnh đầu. Trước đây phụ nữ Bru-Vân Kiều ở trần, mặc váy không dài, thường quá gối 20 đến 25 cm. Có nhóm nữ Bru-Vân Kiều đội khăn bằng vải quấn thành nhiều vòng trên đầu rồi thả sau gáy, cổ đeo hạt cườm, mặc áo cánh xẻ ngực, dài tay màu chàm cổ và hai nẹp trước áo có đính các "đồng tiền" bạc nhỏ màu sáng, nổi bật trên nền chàm đen tạo nên một cá tính về phong cách thẩm mỹ riêng trong diện mạo trang phục các dân tộc Việt Nam.

Người Vân Kiều được mang họ Hồ như thế nào?

      Cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ hoà năm 1946, khi lên danh sách cử tri của dân tộc vùng rẻo cao Quảng Trị, cán bộ của Bác Hồ đến hỏi tên, họ của người Vân Kiều, Pa Cô, mọi người chỉ cho biết tên của mình và nói với cán bộ rằng tất cả người Vân Kiều, Pa Cô đều là con cháu Bác Hồ. Tháng 7/1957 Bác Hồ vào tỉnh Quảng Bình thăm đồng bào, chiến sĩ tỉnh Quảng Bình và  huyện Vĩnh Linh. Thay mặt cho hàng vạn người Vân Kiều, Pa Cô, ông Hồ Ray lúc đó đang phụ trách công tác dân tộc ở Quảng Trị cùng ông Hồ Khăm- Chủ tịch Ủy ban hành chính xã Vĩnh Hà (Vĩnh Linh) đến gặp Bác Hồ để xin cho người Vân Kiều, người Pa Cô được mang họ Hồ của Người. Được Bác đồng ý, tin vui nhanh chóng loan xa, khắp các bản làng người Vân Kiều, Pa Cô giữa đại ngàn Trường Sơn đã tụ hội nhau về ở chân núi Ka Tăng để làm lễ, cắt máu của mình cùng uống ăn thề một lòng theo Đảng và lấy họ của Bác Hồ làm họ của dân tộc mình.

       57 năm trôi qua được mang họ vị chủ tich- Hồ Chí Minh kính yêu, người Bru-Vân Kiều luôn phát huy những đức tính và bản sắc độc đáo trong nền văn hóa chung của dân tộc Việt Nam hội nhập toàn cầu. Trong sản xuất-cần cù chịu khó, sáng tạo; với thiên nhiên- gắn bó hoà quyện; với con người - nhân hậu vị tha, khiêm nhường; với Tổ quốc- yêu nước  thương nòi; với kẻ thù - không dung tha, khoan nhượng...  Tất cả phẩm chất cao quí đó người Bru-Vân Kiều đã vùng với cộng đồng các dân tộc Việt Nam đã gắn bó với nhau trong suốt quá trình lịch sử đấu tranh chống kẻ thù xâm lược, bảo vệ bờ cõi, giành tự do, độc lập và xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh giàu đẹp.

Sưu tầm và biên soạn
TÌM KIẾM


Hỗ trợ trực tuyến
™Lê Văn Bình™
™Lê Văn Bình™
Hiệu trưởng - 0888539577
Hà Văn Đông
Hà Văn Đông
P. Hiệu trưởng - 0913690289
Lê Duy Lộc
Lê Duy Lộc
P. Hiệu trưởng - 0914749929
ĐĂNG NHẬP

Tên đăng nhập
Mật khẩu
HÌNH ẢNH
LIÊN KẾT WEBSITE


TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ - HUYỆN LỆ THỦY - TỈNH QUẢNG BÌNH
Điện thoại: 0232.3962810 - Email: ptdtnoitru@lethuy.edu.vn
Developed by Phạm Xuân Cường. Tel: 0912.037911 - Mail: cuonggiaoduc@gmail.com